Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

45 năm Phát triển và Trưởng thành của Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam


Trụ sở Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam

Gần 45 năm phát triển và trưởng thành, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam - tiền thân là các đoàn Quy hoạch Thủy lợi của Bộ Thủy lợi và Phân Viện Khảo sát Quy hoạch Thủy lợi Nam bộ trước đây, đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển thủy lợi nói riêng và phát triển kinh tế-xã hội nói chung của các tỉnh, thành phố phía Nam và cả nước, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và miền Đông Nam bộ (MĐMB).

Ở MĐNB, hàng chục hồ chứa quy mô vừa và lớn, hàng trăm công trình thủy lợi các cấp đã được xây dựng từ những bước quy hoạch ban đầu, mà đáng kể ra là công trình thủy lợi Dầu Tiếng và các công trình thủy điện Trị An, Thác Mơ, Hàm Thuận, Đa Mi, Đại Ninh, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4,… Ở ĐBSCL, hàng trăm dự án thủy lợi với hệ thống kênh tưới, tiêu các cấp, hệ thống đê biển và cửa sông, hệ thống cống, bờ bao và đê bao kiểm soát lũ... đã được hình thành từ những trang nghiên cứu khởi đầu, mà đáng ghi nhận là kênh trục Hồng Ngự, công trình cải tạo vùng đất phèn Đồng Tháp Mười và hệ thống kiểm soát lũ vùng Tứ giác Long Xuyên, Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1. Đảng, Nhà nước và Bộ Nông nhiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) luôn đánh giá cao sự đóng góp đó của Viện, thể hiện bằng những Huân chương và bằng khen các cấp. Nhân dân và chính quyền các địa phương phía Nam luôn trân trọng công lao của Viện, thể hiện bằng sự hợp tác trong nhiều dự án phát triển thủy lợi. Nhìn lại chặng đường đã qua, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ NN&PTNT giao phó, xứng đáng là cánh chim đầu đàn về quy hoạch thủy lợi và tài nguyên nước ở các tỉnh, thành phía Nam và cả nước.

Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam là đơn vị đầu tiên có mặt trên các tỉnh, thành phía Nam của Tổ quốc để thăm dò, khảo sát thiết kế quy hoạch thủy lợi. Từ ngày thành lập (20/9/1977), trải qua gần 45 năm phát triển và trưởng thành, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thủy lợi Nam bộ trước đây và nay là Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, đã tiến hành lập quy hoạch thủy lợi cho nhiều lưu vực sông và vùng lãnh thổ lớn, nhỏ ở địa bàn các tỉnh phía Nam; Nhiều dự án quy hoạch, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã góp phần thiết thực cho phát triển sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế-xã hội và an ninh quốc phòng, như Quy hoạch kiểm soát lũ ĐBSCL, Quy hoạch thủy lợi tổng hợp ĐBSCL, Quy hoạch hệ thống đê biển-đê cửa sông ĐBSCL,  Quy hoạch tổng thể lưu vực sông Đồng Nai và vùng phụ cận, Quy hoạch các lưu vực sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn... Gần đây, nhiều quy hoạch tổng thể thủy lợi vùng, tiểu vùng có xét đến tác động của biến đổi khí hậu nước biển dâng cũng đã được Viện thực hiện như Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu - nước biển dâng, Quy hoạch tổng thể thủy lợi vùng Đông Nam bộ thích ứng với biến đổi khí hậu - nước biển dâng và hiện nay Viện đang thực hiện Quy hoạch phòng chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050.

Công tác triển khai nghiên cứu khoa học công nghệ là một phần quan trọng trong hoạt động nhằm nâng cao năng lực, uy tín và chất lượng sản phẩm do Viện làm ra. Trong quá trình hoạt động, Viện đã chủ trì các chương trình nghiên cứu KHCN cấp Nhà nước gồm Nghiên cứu tác động môi trường ở vùng ngọt hóa Tầm Phương (1987-1989); Cân bằng nước phục vụ phát triển kinh tế-xã hội MĐNB/KC12-05 và ĐBSCL/KC12-06 (1994-1996); Nghiên cứu lập cơ sở dữ liệu thống nhất cho mô hình toán lũ ĐBSCL/KC08-07 (2002-2004); Nghiên cứu nhận dạng toàn diện về lũ, dự báo, kiểm soát và thoát lũ phục vụ yêu cầu chung sống với lũ ở ĐBSCL/KC08-14 (2003-2005); Nghiên cứu giải pháp vùng ven biên giới Việt Nam-Campuchia phục vụ ổn định an ninh-quốc phòng và phát triển kinh tế-xã hội dải biên giới ĐBSCL/KC08.08-06.10 (2006-2008); Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu mã số BĐKH/16-20 (2016-2019). Chương trình nghiên cứu xâm nhập mặn ĐBSCL, Chương trình nghiên cứu biến đổi khí hậu và nước biển dâng,… và nhiều đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Những hoạt động nghiên cứu khoa học đã và đang mang lại hiệu quả cao cho mọi lĩnh vực quy hoạch và phát triển thủy lợi, phục vụ phát triển KTXH và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Cùng với công tác quy hoạch và triển khai nghiên cứu khoa học công nghệ Viện còn thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về quy hoạch thủy lợi, môi trường và chất lượng nước, quản lý phát triển tài nguyên nước, quản lý lưu vực sông... với nhiều nước và tổ chức quốc tế như Ban Thư ký Uỷ hội sông Mê Công, Tổ chức Phát triển Quốc tế Thụy Điển, Công ty ESSA Canada, Công ty NEDECO Hà Lan, IFPRI Mỹ, JICA Nhật Bản, DANIDA Đan Mạch, AusAID Úc, AFD Pháp, WB, ADB, UNDP, UNIDO, UNEP, IUCN, WWF, ACIAR, IRRI... tham gia soạn thảo Luật Tài nguyên nước, Luật Thủy lợi... Những dự án quốc tế quy mô lớn cũng được Viện tham gia và hợp tác thực hiện hiệu quả như Dự án ngọt hóa Quản Lộ-Phụng Hiệp, Dự án RAS81-113 phục hồi lưới trạm thủy văn ĐBSCL, Chương trình nghiên cứu xâm nhập mặn giai đoạn I, II vùng ĐBSCL, Mạng giám sát môi trường các Tiểu Dự án thủy lợi ĐBSCL của WB, các Chương trình Sử dụng nước, Quy hoạch tổng thể, Môi trường, Kiểm soát lũ, v.v... của Ủy hội sông Mê Công...

Điều tra cơ bản luôn được Viện chú trọng, đây là nguồn tài liệu quan trọng đầu vào phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, lập quy hoạch thủy lợi và thiết kết xây dựng công trình. Điểm đóng góp nổi bật trong công tác điều tra cơ bản là dự án Khảo sát kỹ thuật sông, suối biên giới phục vụ phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia từ năm 2006 đến nay, đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Viện. Viện đã tư vấn cho Ủy ban Biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao và Ban Chỉ đạo Phân giới cắm mốc các tỉnh trong việc phân giới trên sông suối biên giới, quy thuộc cồn bãi và đề xuất các giải pháp phòng chống sạt lở các cột mốc và sông suối biên giới; góp phần vào việc hoàn thành  84% công tác phân giới cắm mốc trên thực địa (riêng sông suối đạt 95%) mà Thủ tướng Chính phủ hai nước Việt Nam - Campuchia mới ký Hiệp ước bổ sung 2019 vào ngày 05/10/2019 tại Hà Nội.

Các sản phẩm do Viện làm ra mang tính khoa học, tính kinh tế vĩ mô, tính nhân văn đạt chất lượng cao do đó được các địa phương, các Bộ, ngành liên quan đến việc sử dụng nước rất quan tâm, làm cơ sở xây dựng hạ tầng thiết yếu nhất để nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường nước nói riêng và môi trường thiên nhiên nói chung. Đồng thời làm cơ sở cho các Bộ ngành và các địa phương tham khảo xây dựng chiến lược phát triển ngành và địa phương. Từ đó đã khẳng định vai trò của công tác quy hoạch thủy lợi, tạo ra cơ sở hạ tầng thiết yếu để ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất của người dân, thiết lập những tiêu đề cơ bản thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước. Những dự án của Viện đã được đánh giá có hiệu quả kinh tế, có ý nghĩa chiến lược tạo ra nhiều địa bàn cho các địa phương phát triển kinh tế - xã hội.