Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Viện Chăn nuôi



Trong những năm gần đây, Viện đã có một số thành tựu nổi bật như sau:

Lần đầu tiên ở Việt Nam tạo ra 04 lợn Ỉ nhân bản bằng kỹ thuật cấy chuyển nhân tế bào soma vào tháng 3/2021. Hiện nay, 04 con lợn Ỉ nhân bản đều khỏe mạnh, sinh trưởng phát triển tốt với những đặc điểm đặc trưng về ngoại hình như: toàn thân màu đen, lưng võng, mặt nhăn, đầu ngắn, đuôi thẳng. Sự ra đời của những con lợn Ỉ nhân bản tại Việt Nam là một bước tiến vượt bậc về khoa học công nghệ của nước ta trong lĩnh vực nhân bản động vật, khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế của các nhà khoa học Việt Nam nói chung và của Viện Chăn nuôi nói riêng trong khu vực và trên thế giới.

Có 47 tiến bộ kỹ thuật mới được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho phép chuyển giao nhân rộng ra sản xuất; trong đó có 5 dòng, giống lợn mới, 12 dòng gà, 6 dòng ngan, 8 dòng vịt mới, 4 tổ hợp lai đà điểu (được đánh giá là vật nuôi của thế kỷ 21) 5 tổ hợp bò lai hướng thịt và một số quy trình công nghệ, mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ cầm bền vững được nhân rộng và có sức lan toả mạnh trong thực tiễn sản xuất, những mô hình trồng cỏ, chế biến ủ chua nuôi gia súc đem lại hiệu quả kinh tế cao được người dân và nhiều địa phương áp dụng nhân rộng mô hình.

Có 17 sản phẩm KHCN của Viện đã được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT trao tăng "Giải thưởng Bông lúa vàng" năm 2012, 2015 và 2018. Đó là: Gà Ri vàng rơm; Bốn dòng gà TP; Hai dòng vịt V2 và V7; Dòng lợn bố mẹ VCN21 và VCN22; Tinh bò đông lạnh VINALICA dạng cọng rạ; Khoáng KL-01 phòng chống bệnh sát nhau cho bò sữa; Gà hướng trứng VCN-GA1; Hai dòng gà lông màu hướng trứng: VCN/TP-HA01; VCN/TP-HA02; Hai dòng ngan: VCN/TP-VS; VCN/TP-V7; Bốn dòng đà điểu: VCN/TP-BV01; VCN/TP-BV02; VCN/TP-BV03; VCN/TP-BV04; và Môi trường pha loãng bảo tồn tinh dịch lợn L.V.C.N; Dòng vịt V52, V57 và con lai thương phẩm VSM6; Giống vịt biển 15- Đại Xuyên; Giống lợn Landrace-BT88S và giống lợn Yorkshire-BT66S; Tinh trâu đông lạnh dạng cọng rạ nhãn hiệu VINALICA, Gà VCN-HAH (con lai giữa gà H’Mông với Ai Cập); Giải pháp sử dụng chế phẩm thảo dược IAS-1 và IAS-2 có nguồn gốc bản địa trong thức ăn chăn nuôi để sản xuất thị lợn an toàn.

Thứ trưởng Bộ NN và PTNT Phùng Đức Tiến thăm Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - nơi thục hiện và nuôi giữ 4 con lợn nhân bản

Có 9 sản phẩm KHCN được trao tặng Sản phẩm Vàng chăn nuôi gia cầm Việt Nam năm 2016 và 2018 do Cục Chăn nuôi và Hiệp hội CN gia cầm Việt Nam bình chọn, đó là: Gà Ri vàng rơm và Ri lai; Gà VCN-HA; Gà VCN-AG1; Bốn dòng đà điểu: VCN/TP-BV01; VCN/TP-BV02; VCN/TP-BV03; VCN/TP-BV04; Vịt siêu trứng Đại xuyên TC và Vịt bố mẹ và thương phẩm VSM4, Vịt biển 15 - Đại Xuyên, Vịt chuyên thịt VSM6 và Gà VCZ16.

Viện đã trình và được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận 17 giống vật nuôi mới gồm có 06 giống gà (Gà VCN/BT-DA15-15, Gà VCN/BT-DA15-16, Gà lông chân, Gà Tò, Giống gà Tetra, Giống gà GTP- Thụy Phương 2), 04 giống vịt (Vịt Sín Chéng, Vịt Minh Hương, Vịt VSD-Thụy Phương 1, Vịt VSH-Thụy Phương 2), 02 giống ngan (Ngan NVS- Thụy Phương 1, Ngan NV7- Thụy Phương 2), 01 giống Ngỗng (Ngỗng xám) và 04 giống lợn (Lợn Mường Tè, Lợn cỏ Bình Thuận, Lợn Xao Va, Lợn H'Mông).

Bình quân mỗi năm Viện đã chuyển giao cho sản xuất 18.000 – 20.000 lợn ông bà, bố mẹ, 600 – 700 ngàn liều tinh trâu bò dạng cọng rạ cung cấp cho sản xuất 14 – 16 triệu gà giống ông bà, bố mẹ các loại, các giống gà bản địa, gà lông màu thả vườn và con lai của chúng do Viện Chăn nuôi chọn và lai tạo chiếm khoảng 40% thị phần, 2,5 triệu con vịt, ngan ông bà, bố mẹ; các giống dê, cừu, thỏ do Viện Chăn nuôi chuyển giao chiếm 75 - 80% thị phần. Ngoài ra, hàng năm Viện đã tập huấn/đào tạo về kỹ thuật chăn nuôi nói chung cho hàng chục nghìn cán bộ kỹ thuật và nông dân trong cả nước. Các sản phẩm khoa học công nghệ của Viện chuyển giao ra sản xuất đã góp phần làm tăng hiệu quả cho ngành chăn nuôi ước khoảng trên 15 nghìn tỷ đồng/năm.

Một số thành tựu khoa học công nghệ ngang tầm thế giới và khu vực về công nghệ gen như việc xác định được ảnh hưởng của các gen Halthane đến tính trạng năng suất thịt lợn, các gen liên quan đến năng suất sinh sản (RNF4; RBP4; IGF2) ở lợn, các gen liên quan đến năng suất và chất lượng sữa ở bò như PIT – IE2; gen GA liên quan đến sinh trưởng ở bò thịt, các gen liên quan đến kháng Stress nhiệt ở gà, bệnh cúm gia cầm, đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc định hướng chọn lọc các giống vật nuôi thời gian tới. Viện đã nghiên cứu sản xuất thành công phôi in-vitro và in-vivo, kỹ thuật cấy truyền phôi, kỹ thuật cắt phôi, xác định giới tính phôi, sản xuất phôi bằng tinh đã phân định giới tính; đông lạnh và giải đông phôi đã thành công trong tạo phôi lợn ỉ từ tế bào soma. Viện cũng đã sản xuất thành công chế phẩm Probiotic dạng bột dùng trong chăn nuôi lợn và gia cầm, sản xuất hỗn hợp Premix khoáng dạng Nano, xây dựng phần mềm Heopro-C Des ktop trong quản lý đàn lợn cụ kỵ, ông bà, công nghệ chăn nuôi lợn tiết kiệm nước. Những kết quả này là tiền đề cho việc phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng trong nông nghiệp.