Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Tác động PFES đến ý thức bảo vệ rừng của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng



Huyện Đơn Dương có diện tích rừng và đất rừng là 41.055 ha, là một trong những huyện có độ che phủ rừng cao của tỉnh Lâm Đồng, chiếm 56,8% diện tích và cao hơn mức bình quân chung của tỉnh.Thực trạng triển khai công tác khoán bảo vệ rừng và PFES trên địa bàn huyện Đơn Dương, Lâm Đồng cho thấy, đã có 5 đơn vị nhận giao khoán bảo vệ rừng và thực hiện PFES, bao gồm 2 đơn vị chủ rừng nhà nước là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn Dương, Ban Quản lý rừng phòng hộ D’ran và 3 đơn vị chủ rừng là doanh nghiệp ngoài nhà nước là Công ty TNHH Acteam International, Công ty TNHH Hiếu Hóa và Xí nghiệp Nguyên liệu giấy Lâm Đồng.

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Thùy (Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh), Võ Văn Hải (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) về tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đến nhận thức bảo vệ rừng của hộ gia đình đồng bào dân tộc tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng cho thấy, việc tham gia chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đã giúp người dân nhận thấy được lợi ích từ việc bảo vệ rừng và những nguồn lợi mà rừng mang lại, qua đó nâng cao được ý thức bảo tồn rừng của người dân. Những hộ có diện tích sản xuất càng lớn thì càng nhận rõ được lợi ích từ rừng và  việc bảo vệ rừng mang lại như nguồn nước tưới, điều hòa khí hậu, môi trường sống...

Thực hiện phỏng vấn, thảo luận với các chủ rừng, các cán bộ kỹ thuật, các trưởng phân trường, trưởng trạm bảo vệ rừng cho biết, việc thực hiện hợp đồng giữa chủ rừng và hộ nhận khoán, trong hợp đồng ghi rõ các điều khoản về quyền lợi và nghĩa vụ của từng bên, những cam kết giữa hai bên, những qui định điều chỉnh, bổ sung, thanh lý hợp đồng theo mẫu do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cung cấp, các hình thức xử lý hộ vi phạm chủ yếu là nằm ở mức khiển trách hoặc bằng việc trừ tiền công theo tháng, quý. Nếu mức độ vi phạm nặng thì thanh lý hợp đồng, giao rừng cho hộ khác quản lý.

Với đơn giá chi trả khoán bảo vệ rừng bình quân từ 400.000-500.000 đồng/ha/năm và diện tích khoán bảo vệ rừng từ 25-30 ha/hộ, đã tạo nguồn thu nhập của mỗi hộ nhận khoán bảo vệ rừng khoảng 12-15 triệu đồng/năm. Mức thu nhập này đã góp phần ổn định và cải thiện đời sống, kinh tế cho các hộ tham gia bảo vệ rừng, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Rõ ràng, nguồn thu nhập mang lại cho các hộ gia đình, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng không đánh đổi bằng giá trị trực tiếp của rừng từ hoạt động khai thác và bán sản phẩm tài nguyên rừng.

Nhóm giải pháp chính được đề xuất là nâng cao nguồn vốn xã hội từ đó nâng cao thu nhập từ rừng sản xuất cho nông hộ. Ngoài những giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tham gia PFES, tăng cường cơ sở dịch vụ pháp lý cho PFES, cần huy động sự tham gia của người dân, cụ thể là đồng bào dân tộc thiểu số vào công tác quản lý, bảo vệ rừng bền vững. Cùng đó, cần sớm hoàn thành dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng, làm cơ sở thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

T. Lan