Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên



Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là chính sách mang tính đột phá, có tính lan tỏa đối với ngành lâm nghiệp trên phạm vi cả nước nói chung và tại Vườn Quốc gia Cát Tiên nói riêng.

Ngay từ năm 2010, thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (nay được quy định tại Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 ngày 15/11/2017 và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp), hằng năm Vườn Quốc gia Cát Tiên triển khai công tác khoán bảo vệ rừng theo chương trình chi trả DVMTR tại ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước. Để triển khai chính sách, Vườn Quốc gia Cát Tiên xây dựng hồ sơ thuyết minh, bản cam kết bảo vệ rừng với cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ rừng, đồng thời, ký hợp đồng với các tổ nhận khoán để thực hiện công tác bảo vệ rừng. Thực hiện việc quản lý họ tên hộ nhận khoán bằng chứng minh nhân dân, ngoài ra phối hợp chặt chẽ với UBND các xã thường xuyên rà soát danh sách các hộ đủ tiêu chí theo quy định, ưu tiên các hộ đồng bào dân tộc, hộ nghèo, hộ có sức khỏe,... để tham gia vào tổ cộng đồng nhận khoán.

Theo số liệu báo cáo của Vườn Quốc gia Cát Tiên, diện tích rừng của Vườn phân chia thành 2 giai đoạn và tương đối ổn định qua các năm. Năm 2008 đến 2016, diện tích rừng tăng từ 71.187 ha đến 72.606 ha và năm 2017 đến 2019, diện tích rừng tăng đến 82.597,4 ha.  Diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng có sự biến động hàng năm, năm 2010 cho đến 2019, tăng từ 27.008 ha lên đến 78.477 ha. Hiện nay, Vườn Quốc gia Cát Tiên thực hiện khoán bảo vệ rừng theo chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng với tổng diện tích 31.604,65 ha cho 45 cộng đồng với tổng số 1.246 hộ và hai đơn vị tập thể. Phần diện tích còn lại, Vườn Quốc gia Cát Tiên tự quản lý, bảo vệ.

Kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, diện tích rừng đã được phần lớn người dân địa phương tham gia bảo vệ, gắn quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng người dân trong công tác bảo vệ rừng.

Số vụ vi phạm, về bảo vệ tài nguyên rừng năm sau giảm nhiều so với năm trước. Thu nhập bình quân của người dân tăng lên hàng năm, đời sống ngày càng được cải thiện, góp phần cùng chính quyền địa phương giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn. Người dân tham gia vào chi trả DVMTR đã được hướng dẫn và đào tạo trong việc tuần tra rừng, xác định trữ lượng các bon và đánh giá đa dạng sinh học. Tuy nhiên, cho tới nay mới chỉ có một số ít các hộ dân và hộ gia đình được tiếp cận với những hỗ trợ này.

PV.